Agent Orange in Vietnam Program
Agent Orange in Vietnam Program
Thành viên của Nhóm Đối thoại
Download thông tin này bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt
- Susan V. Berresford, người triệu tập, nguyên Chủ Tịch, Quỹ Ford
Members from the United States:
- Walter Isaacson, Đồng Trưởng nhóm Đối thoại phía Mỹ; Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Viện Aspen
- Christine Todd Whitman, Chủ tịch, Whitman Strategy Group
- William Mayer, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc, Park Avenue Equity Partners
- Mary Dolan-Hogrefe, Phó Chủ tịch kiêm Cố vấn cao cấp, Tổ chức Quốc gia về Người khuyết tật
- Tiến sĩ Vaughan Turekian, Trưởng phòng quốc tế, Hiệp hội người Mỹ vì sự tiến bộ của Khoa học
Members from Vietnam:
- Đại sứ Hà Huy Thông, Đồng Trưởng Nhóm phía Việt Nam; Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại, Quốc hội Việt Nam
- Giáo sư. Võ Quý, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Đại học Quốc gia ViệtNam
- Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Trưởng phòng Phụ sản, Đại học Y khoa thành phố Hồ Chí Minh
- Đỗ Hoàng Long, Vụ trưởng Vụ Đối ngoại Nhân dân, Ban Đối ngoại TW Đảng
- Trung tướng Phùng Khắc Đăng, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh ViệtNam
Về Nhóm Đối thoại
Ý tưởng đối thoại giữa công dân với công dân về chất độc DaCamlần đầu được Quỹ Ford thăm dò vào năm 2006. Ý tưởng đó là một nhóm công dân như vậy có thể nâng cao nhận thức của người dân ở Hoa Kỳ, bao gồm cả các quan chức và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp của Mỹ, về cái hậu quả cuối cùng và gây rắc rối của cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhóm Đối thoại được chính thức thành lập vào tháng Hai 2007 như một sáng kiến của những công dân, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách nổi tiếng của cả hai bên, làm về những vấn đề mà chính phủ hai nước thấy khó giải quyết. Nhóm không phải là một cơ quan thực hiện hay là một tổ chức gây quỹ.
Vai trò của Nhóm là kêu gọi sự chú ý tới năm nhiệm vụ ưu tiên sẽ được thực hiện trên tinh thần nhân đạo: thành lập các trung tâm điều trị và giáo dục cho người Việt Nam bị khuyết tật; hợp tác với các chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ để khống chế và tẩy độc dioxin, bắt đầu tại ba “điểm nóng” ưu tiên tại sân bay; thành lập một phòng thí nghiệm phân tích dioxin hiện đại ở Việt Nam; bồi dưỡng các chương trình tập huấn cho tập huấn viên nhằm khôi phục và quản lý các danh lam thắng cảnh bị tàn phá; và giáo dục công chúng Mỹ về những vấn đề này.
Năm Nhiệm vụ Ưu tiên: Ở cả năm nhiệm vụ đều có tiến triển.
1) Các trung tâm phục hồi chức năng đã được thành lập để những người bị ảnh hưởng bởi Chất độc Da Cam phục hồi khả năng, hỗ trợ gia đình họ, và tạo điều kiện thuận lợi cho họ được học hành và đào tạo. Các chương trình thí điểm về chăm sóc y tế và dạy nghề đang vận hành ở Thái Bình, Đà Nẵng và Quảng Ngãi trong khuôn khổ chương trình “Mạng lưới Hỗ trợ đối với Người Khuyết tật” của Quỹ Đông Tây Hội ngộ. Tổ chức Trẻ em Việt Nam đang làm việc với chính quyền địa phương ở Đà Nẵng về chương trình “Hệ thống Chăm sóc Hy vọng” của họ. Quỹ Cựu chiến binh Mỹ ở ViệtNam có chương trình chăm sóc y tế, đào tạo nghề và cộng đồng xã hội để nâng cao mức sống cho người khuyết tật và những người dân sống ở các điểm nóng có dioxin ở sáu tỉnh. Tổ chức Hỗ trợ người Khuyết tật Việt Nam đang nâng cấp hệ thống chăm sóc dựa vào cộng đồng ở Bình Định, Kon Tum và Đà Nẵng. Những chương trình này cũng như các chương trình tương tự khác đều có giá trị nhưng cần theo nhiều nguồn lực.
2) Sự hợp tác giữa chính phủ Mỹ và Việt Nam đã được mở rộng trong nỗ lực khống chế và tẩy độc dioxin tại bai “điểm nóng” sân bay ưu tiên. Hai trong ba bước cần thiết để phục hồi môi trường đã được hoàn tất tại sân bay Đà Nẵng. Đó là việc đo xác định mức độ ô nhiễm dioxin trong đất và thực phẩm tại khu vực phía bắc của sân bay. Hiện khu đất bị nhiễm nặng nhất đã được phủ một lớp xi măng; có một bể nước lọc thu gom nước chứa đất nhiễm độc chảy từ các khu xung quanh; và có một bức tường xây chạy dọc khu phía bắc sân bay để ngăn dân không vào được trong sân bay để sử dụng các hồ cá. Bước thứ ba là tẩy độc dioxin, dự kiến bắt đầu làm năm 2012. Cần có thêm hỗ trợ tài chính bổ sung để hoàn tất việc phục hồi tại tất cả ba điểm nóng.
3) Một phòng phân tích dioxin có độ phân giải cao đã được xây dựng ở Hà Nội. Nhóm Đối thoại đã kêu gọi được sự hỗ trở của tổ chức Atlantic Philanthropies và Quỹ Bill and Melinda Gates với số tiền là 5,4 triệu USD góp vào tổng số tiền 6,75 triệu USD cần để xây Phòng phân tích Chất hữu cơ bền Việt Nam hiện đại. Chính phủ ViệtNam tài trợ phần còn thiếu , và phòng thí nghiêm đã được khai trương tháng Giêng năm 2011. Đây sẽ là cột mốc đánh dấu nỗ lực quản lý môi trường của ViệtNam, cho phép có thể đánh giá chính xác nồng độ dioxin và các chất độc hữu cơ khác trong đất, trầm tích, và cơ thể con người. Phòng thí nghiệm có lợi cho các thế hệ tương lai cũng như cho những người hiện đang bị ảnh hưởng.
4) Các chương trình tập huấn cho tập huấn viên về phục hồi và quản lý các cảnh quan bị tàn phá cũng đã bắt đầu. Nhóm Đối thoại ủng hộ ý tưởng tổ chức các chương trình tập huấn về cách phục hồi và tái sử dụng đất đã bị tàn phá do bị phun rải chất diệt cỏ. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường của trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã giới thiệu thành công phương pháp này tới nông dân, cán bộ kỹ thuật và cán bộ ở tỉnh Quảng Trị và đã mở rộng sang tỉnh Thừa thiên Huế. Công việc khởi đầu này có thể sẽ được nhân rộng sang các nơi khác ở khắp ViệtNam khi có thêm nguồn hỗ trợ mới.
5) Tại Hoa Kỳ, phương pháp tiếp cận mang tính nhân đạo đối với vấn đề Chất độc Da Cam/dioxin đang được ủng hộ. Nhóm Đối thoại đã tổ chức năm cuộc họp, đã đưa ra báo cáo về các khía cạnh khác nhau của tình hình ở ViệtNam. Đối tác phía Mỹ trong Nhóm Đối thoại đang tập trung giáo dục các nhà hoạch định chính sách, các nghị sĩ Quốc hội, các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và những người Mỹ khác, là những người có thể hỗ trợ về tài chính và chuyên môn.
Bản Tuyên bố và Kế hoạch Hành động: Để tập trung hơn vào những nỗ lực này, ngày 16/6/2010 Nhóm Đối Thoại Mỹ -Việt về Chất độc Da Cam/Dioxin đã công bố một Bản Kế hoạch Hành động 10 năm với những lời lẽ như sau:
“Trong vòng 35 năm kể từ sau cuộc chiến, hai nước đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc xây dựng mối quan hệ hữu nghị. Tuy nhiên, đến giờ dư âm của cuộc chiến vẫn còn tác động đến cuộc sống của hàng triệu người Mỹ và ViệtNam. Những đối tượng này bao gồm những người bị ảnh hưởng một cách trực tiếp và gián tiếp từ trong chiến tranh và cả hiện tại do việc phun rải chất độc da cam và các chất làm rụng lá ở nông thôn miền nam ViệtNam.
“Quá khứ nghiệt ngã này đã làm cản trở mối quan hệ đã được cải thiện giữa Mỹ với ViệtNam. Các vấn đề về trách nhiệm, sự nhận thức và độ tin cậy về dữ liệu trong một thời gian quá dài đã làm nảy sinh các tranh cãi gay gắt, cản trở đến công việc nghiên cứu và hoạt động khắc phục hậu quả. Đa số những người Mỹ khi được hỏi ý kiến đều đồng ý rằng đã đến lúc phải gác những vấn đề này sang một bên.
“Do đó, chúng tôi kêu gọi Hoa Kỳ chung tay với người ViệtNamtài trợ cho một nỗ lực nhân đạo và toàn diện để giải quyết hậu quả chất độc Da cam/dioxin ở ViệtNam.”
Bản Kế hoạch Hành động nhằm đạt được hai mục tiêu chính trong 10 năm tới:
- Làm sạch đất bị nhiễm dioxin và khắc phục hệ sinh thái đã bị tàn phá;
- Mở rộng các dịch vụ cung cấp cho người khuyết tật có liên quan đến chất độc da cam/dioxin, và cho những người bị các khuyết tật khác và cho gia đình của họ.
Các hợp phần trong Bản Kế hoạch đưa ra giải quyết một phần có ý nghĩa trong giải pháp giải quyết dài hạn hậu quả Chất độc Da cam/Dioxin ở ViệtNam. Bản kế hoạch dự kiến kinh phí 300 triệu USD trong vòng 10 năm tức là 30 triệu USD mỗi năm. Chính phủ Mỹ nên đóng vai trò chính trong việc đáp ứng những chi phí này, cùng với các nhà tài trợ công và tư nhân khác, bổ sung cho sự đầu tư tiếp tục phù hợp từ Chính phủ và người dân Việt Nam. Khoản tiền này hiện vẫn chưa có trong tay; cần phải được gây quỹ bằng cách tiếp tục trình bày với các nhà tài trợ.
Hiện trạng nguồn tiền: Tháng 7 năm 2011 Nhóm Đối thoại đã có Báo cáo Năm thứ Nhất về tiến triển hoạt động kể từ khi công bố Bản Tuyên bố và Kế hoạch. Bảng kê dưới đây cho thấy các số liệu từ các nguồn tiền đã được gây quỹ để tẩy độc dioxin và các dịch vụ cho người khuyết tật ở Việt Nam kể từ khi thành lập Nhóm Đôi thoại năm 2007 đến tháng Năm năm 2010 và kể từ khi Bản Kế hoạch Hành động của Nhóm Đối thoại được công bố cách đây một năm.
Trong năm nay Quốc Hội Mỹ đã phân bổ bổ sung 15,5 triệu USD, số tiền này cùng với các khoản tiền khác của chính phủ Mỹ sẽ đủ cho chi phí của dự án để hoàn tất việc tẩy độc dioxin tại sân bay Đà Nẵng. Việc tẩy độc ở hai điểm nóng dioxin lớn kia bây giờ cũng có thể dự tính và hiểm hoa của chúng tới sức khỏe cộng đồng có thể đi đến chỗ chấm dứt. Đây là một tin tốt lành và đáng được ăn mừng. Nhóm Đối thoại bây giờ sẽ tập trung vào thách thức chủ yếu còn lại—đó là đưa được các dịch vụ và cơ hội tới những người bị khuyết tật lien quan đến dioxin, và cả những người bị khuyết tật khác nữa.
Để giải quyêt những nhu cầu của người khuyết tật, Quốc hội Mỹ cũng đã phân bổ 3 triệu USD trong khoản tiền mới trong năm nay. Các nhà tài trợ khác, hưởng ứng theo khung Kế hoạch Hành động của Nhóm Đối thoại đã cung cấp thêm 1,6 triệu USD mới cho các chương trình này. Khoản tiền mới này cho các dịch vụ và việc tẩy độc tổng cộng lên đến 20 triệu USD. Đối chiếu lại, số tiền gây quỹ cho công việc Chất độc Da cam trung binh khoảng 17 triệu trong mỗi năm trong 3 năm trước. Số tiền được tăng lên là tin tốt lành. Mặt khác, 20 triệu đô thì mới chỉ là 2/3 số tiền kêu gọi cho năm đầu của Bản Kế hoạch mà thôi.
Các bước tiếp theo: Trong năm trước mắt, Nhóm Đối thoại kêu gọi tất cả các đối tác tiếp tục và mở rộng công việc ho đã bắt đầu để cung cấp các dịch vụ ở khắp mọi miền đất nước tới người khuyết tật liên quan đến dioxin, tới những người có khuyết tật khác, và gia đình của họ. Tương tự như vậy, các dự án nông lâm nghiệp và trồng rừng cần được mở rộng từ tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế để tái sử dụng bền vững các cảnh quan bị tàn phá ở các nơi khác.
Nhóm Đối thoại cũng nhận thấy mối quan hệ đối tác giữa Hoa Kỳ và ViệtNamđang ngày một gia tăng đang mang lại các biện pháp thật sự để giải quyết hậu quả của Chất độc Da Cam. Kỷ niệm một năm ngày công bố Kế hoạch Hoạt động của Nhóm Đối thoại, giờ có vẻ hoàn toàn có thể là chính phủ Mỹ và Việt Nam cùng làm việc cùng với các đối tác khác để giải quyết một cách toàn diện những nhu cầu tại ba sân bay trước đây của Mỹ là nơi mức độ dioxin đặc biệt cao – Đà Nẵng, Biên Hòa và Phù Cát- và tại các cộng đồng quanh những sân bay này. Các đối tác khác bao gồm Nhóm Đối thoại Việt Mỹ, hệ thống Liên hiệp quốc, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các doanh nghiệp Mỹ và Việt Nam, và các nhà lãnh đạo của các tổ chức dân sự và tôn giáo.
Dự án thực hiện ở Đà Nẵng đã tạo ra một truyền thống hợp tác và bây giờ có thể nhân rộng và sâu hơn ở Đà Nẵng và áp dụng cho hai địa điểm kia. Nó sẽ tập trung sự quan tâm toàn diện và chất lượng cao đến mọi khía cạnh của hậu quả Chất độc Da cam tại các địa điểm này, giảm bớt sự căng thẳng đa phương xung quanh vấn đề Chất độc Da Cam, và nâng cao năng lực về khoa học và kỹ thuật của Việt Nam và xây dựng sự hợp tác khoa học giữa hai dân tộc. Công việc thực hiện tại ba địa điểm dự kiến sẽ được hoàn thành vào năm 2015 và sẽ là một thành quả đáng kể.
Xin tham khảo Báo Cáo Năm 1 để xem các hợp phần của chương trình “3 điểm nóng” và Kế hoạch Hành đồng để biết thêm chi tiết.
Để xem các hợp phần của chương trình "3-điểm nóng", xin xem:
- Báo cáo Năm thứ Nhất của Nhóm Đối Thoại bằng Tiếng Anh hoặc Tiếng Việt;
- và Bản Tuyên bố và Kế hoạch Hành động 10 năm, cũng bằng Tiếng Anh hoặc Tiếng Việt.
Download thông tin này bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt
Để biết thêm thông tin xin liên hệ: Janice Joseph, Viện Aspen, 477 Madison Avenue Suite 730 New York, NY 10022. janice.joseph@aspeninstitute.org, 212 895-8000
Tháng Năm 2011


